Bài toán: Cho x1,x2,...,x2n+1,y1,y2,....,y2n+1 là các số nguyên dương với n là số nguyên dương tuỳ ý và p là một số nguyên tố có dạng 4k+3. Chứng minh rằng :
Ta dễ dàng chứng minh được (p−1)x2+py2 không thể là một số chính phương bằng nguyên lí lùi vô hạn (∗∗)
Ta chứng minh bằng quy nạp tích [(p−1)x12+py12][(p−1)x22+py22]...[(p−1)x2n+12+py2n+12] có thể biểu diễn được dưới dạng (p−1)X2+pY2. Với n=0 thì hiển nhiên. Gỉa sử :
Do đó [(p−1)x12+py12][(p−1)x22+py22]...[(p−1)x2n2+py2n2] hoàn toàn có thể biểu diễn được dưới dạng p(p−1)m2+n2. Như vậy A=[p(p−1)m2+n2][(p−1)x2n+12+py2n+12].
Ta có p(p−1)m2+n2≡n2(modp),(p−1)x2n+12+py2n+12≡−x2n+12(modp). Do đó A≡−(nx2n+1)2(modp) hay p∣A+(nx2n+1)2. Vì A là số chính phương và p≡3(mod4) nên ta suy ra p2∣A,p∣nx2n+1. Ta sẽ xét ba trường hợp sau:
TH1. Nếu p∣n,p∤x2n+1. Dễ thấy rằng p∤(p−1)x2n+12+py2n+12. Vì A chính phương nên 2∣vp(p(p−1)m2+n2). Ta có p∣p(p−1)m2+n2 nên p2∣p(p−1)m2+n2. Điều này đồng nghĩa với p∣m vì p∣n.
Đặt vp(m)=b1,vp(n)=b2 thì m=pb1m1,n=pb2n1(p∤n1,p∤m1). Ta có p(p−1)m2+n2=p2b1+1(p−1)m12+p2b2n12
Dễ thấy rằng nếu 2b1+1<2b2 thì 2∤vp(p(p−1)m2+n2). Do đó 2b1+1>2b2. Khi đó p(p−1)m2+n2=22b2[p2(b1−b2)+1(p−1)m12+n12].
Như vậy A là số chính phương khi và chỉ khi B=[p2(b1−b2)+1(p−1)m12+n12][(p−1)x2n+12+py2n+12] là số chính phương. Lập luận tương tự, ta thu được p∣B+(n1x2n+1)2 và suy ra p∣B, mâu thuẫn.
TH2. Nếu p∤n,p∣x2n+1, lập luận tương tự trường hợp 1, ta suy ra mâu thuẫn.
TH3. Nếu p∣n,p∣x2n+1. Đặt n=pn1,x2n+1=pc1. Khi đó A=p2[(p−1)m2+pn12][p(p−1)c12+y2n+12] là số chính phương khi và chỉ khi [(p−1)m2+pn12][p(p−1)c12+y2n+12] chính phương. Ta quay lại với ý tưởng ban đầu và dẫn đến p∣y2n+1,p∣m. Quá trính cứ tiếp tục tiếp diễn, ta suy ra pk∣x2n+1,pl∣y2n+1 với mọi k,l∈N∗. Do đó x2n+1=y2n+1=0, mâu thuẫn vì hai số này nguyên dương.
Tìm số nguyên dương n sao cho các số xn và xn+1 đều là tích của hai số nguyên tố phân biệt và hiệu của hai số nguyên tố trong mỗi tích đó là bằng nhau.
Lời giải :
Tuyến tính hóa dãy (xn), ta được :
xn+2=3xn+1−2xn
Phương trình sai phân này cho ta :
xn=2n+49
Gỉa sử 2n+49=pq và 2n+1+49=rs. Trong đó p,q,r,s là các số nguyên tố, p>q,r>s và p−q=r−s.
Nếu n lẻ thì an−bn và a−b là cùng dấu, suy ra −p3=VT>0, mâu thuẫn. Do đó n chẵn.
Nếu p lẻ thì a−ban−bn=an−1+an−2b+...+abn−2+bn−1 là một số lẻ. Mà n chẵn nên tổng A=an−1+an−2b+...+abn−2+bn−1 có số số hạng là một số chẵn, hơn nữa A lẻ nên a,b phải khác tính chẵn lẻ. Tức là a−b≡1(mod2)
Nếu ít nhất một trong ba số a,b,c bằng 0, giả sử a=0. Từ giả thiết ban đầu ta dễ dàng có hệ {cn=bn+2ccn=2b⇒(2c)n=cn2+2c⇒cn−1(2n−cn+1)=2. Dễ dàng thấy mâu thuẫn ở đây.
Như vậy ta xét ∣a∣,∣b∣,∣c∣≥1. Nếu k≥2
Khi đó :
a2k−2+a2k−4b2+...+b2k−2≥a4+b4≥2.
Tương tự b2k−2+b2k−4c2+...+c2k−2≥2,c2k−2+c2k−4a2+...+a2k−2≥2.
Từ đó ∣(a+b)(b+c)(c+a)∣≤1. Dễ dàng chỉ ra được điều này vô lí.
Do đó k=1, tức n=2. Khi đó thì (a+b)(b+c)(c+a)=−8.
Mặt khác từ giả thiết ban đầu là an+2b=bn+2c=cn+2a ta có a,b,c cùng tính chẵn lẻ. Do đó nên trong ba số a+b,b+c,c+a sẽ có hai số bằng ±2 và số còn lại bằng −2. Từ đó dễ dàng suy ra được ba số a,b,c phải bằng nhau (mâu thuẫn)
Kết luận : Gỉa thiết phản chứng là sai, ta có a=b=c.
Bài toán : Cho n là số nguyên dương thỏa mãn n∣2n+5n. Chứng minh rằng n chia hết cho 7.
Lời giải :
Dễ thấy n là số nguyên dương lẻ. Gọi p là ước nguyên tố bé nhất của n.
Gọi a là nghịch đảo của 2 modulo p. Khi đó thì 2a≡1(modp),gcd(2,a)=gcd(a,p)=1.
Ta có p∣2n+5n⇒p∣(2a)n+(5a)n⇒(2a)n+(5a)n≡(5a)n+1(modp)⇒−(5a)n=(−5a)n≡1(modp)⇒ordp(−5a)∣n(1)
Dễ dàng thấy gcd(5a,p)=1 nên theo định lí Fermat nhỏ ta có (−5a)p−1≡1(modp)⇒ordp(−5a)∣p−1(2)
Từ (1)(2) suy ra tồn tại một ước nguyên tố r của ordp(−5a) mà r<p−1<p,r∣n. Điều này mâu thuẫn với tính nhỏ nhất của p. Như vậy phải có ordp(−5a)=1. Suy ra −5a≡1≡2a(modp)⇒7a≡0(modp)
Chọn x=m.p2k+n,y=m−n2.p2k thì phương trình đã cho có một họ nghiệm là (x,y,z)=(m.(m2+n2)2k+n,m−n.(m2+n2)2k,m2+n2) với p=m2+n2 là một số nguyên tố. Ta hoàn toàn chứng minh được có vô số nguyên tố dạng 4k+1 và dễ dàng thấy được lúc này (x,y,z)=1. Từ đó có điều phải chứng minh