x−1Tn(x)−1∈Z,∀n∈N∗ và x+1Tn(x)+1∈Z,∀n∈N,n≡1(mod2)
Thực vậy, ta có tính chất quen thuộc sau của đa thức Chebyshev loại I là :
Tn(1)=1,∀n∈N∗
Điều này đồng nghĩa với việc đa thức Tn(x)−1 nhận x=1 làm nghiệm, hay nhận x−1 làm nhân tử, tức x−1Tn(x)−1∈Z
Ta cũng có :
Tn(−1)=(−1)n,∀n∈N∗
Do đó nếu n lẻ thì Tn(−1)=−1. Điều này cho thấy đa thức Tn(−1)+1 nhận x=−1 làm nghiệm, hay nhận x+1 làm nhân tử, tức x+1Tn(x)+1∈Z,∀n∈N,n≡1(mod2)
Dễ dàng nhận thấy rằng xn+1=Tn(p) với mọi số tự nhiên n.
Ở đây, ta chỉ xét n lẻ :
p−1Tn(p)−1.p+1Tn(p)+1=Un−12(p)(∗)
Gọi :
d=gcd(p−1Tn(p)−1,p+1Tn(p)+1)⇒d∣2
Từ đó suy ra Un−1(p) là một số chẵn, nhưng điều này vô lí vì với n lẻ thì n−1 chẵn và mọi đa thức Chebyshev loại II có bậc chẵn đều là số lẻ nếu biến số là số nguyên.
Như vậy phải có d=1. Từ (∗) ta suy ra ngay p+1Tn(p)+1=p+1xn+1+1 là một số chính phương với mọi số nguyên dương n lẻ. Tức là p+1x2m+1 chính phương với mọi số nguyên dương m.
Bài toán hoàn tất.
Một số tính chất của đa thức Chebyshev loại I và II có thể xem tại đây.
Ta thấy các số hạng chính phương là a1=12,a4=22,a9=42,a18=82,... và một số hạng chính phương sẽ có căn gấp đôi căn của số hạng chính phương kế trước nó.
Như vậy ta đi chứng minh nếu ak=m2 thì số hạng chính phương liền sau của nó bằng (2m)2.
Ta tính được :
ak+1=ak+2.0+1=m2+m=(m+0)2+(m−0)
ak+2=ak+2.1=m2+2m=(m+1)2−1
ak+3=ak+2.1+1=m2+3m=(m+1)2+(m−1)
ak+4=ak+2.2=m2+4m+1=(m+2)2−3
ak+5=ak+2.2+1=m2+5m+2=(m+2)2+(m−2)
ak+6=ak+2.3=m2+6m+4=(m+3)2−5
ak+7=ak+2.3+1=m2+7m+6=(m+3)2+(m−3)
ak+8=ak+2.4=m2+8m+9=(m+4)2−9
Qua quy luật của các số hạng trên, ta chứng minh bằng quy nạp :
Vậy theo nguyên lý quy nạp ta được (∗). Rõ ràng ak+2s không thể chính phương vì :
(m+s−1)2<(m+s)2−2s+1<(m+s)2
Và nếu s≤m thì (m+s)2≤(m+s)2+(m−s)≤(m+s+1)2, suy ra ak+2s+1 chỉ là số chính phương nếu s=m và khi đó ak+2m+1=(2m)2(∗∗).
Còn nếu s>m thì ak+2s+1=(m+s)2+(m−s)>(2m)2=ak+2m+1 nên ak+2s+1 không thể là số chính phương kế tiếp sau ak.
Như vậy một số hạng chính phương sẽ có căn gấp đôi căn của số hạng chính phương kế trước nó. Hơn nữa ta có a1=12 nên bằng quy nạp ta có thể chỉ ra được các số hạng chính phương của dãy đều là một lũy thừa bậc chẵn của 2.
Bây giờ ta trở lại với n=2k+k−2.
Chọn k=1 ta được a1=1=20. Chọn k=2 ta được a2=4=(21)2. Chọn k=3 ta được a3=16=(22)2. Chọn k=4 ta được a18=26=(23)2…
Ta quy nạp :
a2k+k−2=22(k−1)
Gỉa sử điều này là đúng. Xét với k+1, ta cần chứng minh :
a2k+1+(k+1)−2=22k
Điều này là đúng nếu trong (∗∗) ta chọn thay k bởi 2k+k−2 và chọn m=2k−1, lúc đó :
Bài toán: Cho x1,x2,...,x2n+1,y1,y2,....,y2n+1 là các số nguyên dương với n là số nguyên dương tuỳ ý và p là một số nguyên tố có dạng 4k+3. Chứng minh rằng :
Ta dễ dàng chứng minh được (p−1)x2+py2 không thể là một số chính phương bằng nguyên lí lùi vô hạn (∗∗)
Ta chứng minh bằng quy nạp tích [(p−1)x12+py12][(p−1)x22+py22]...[(p−1)x2n+12+py2n+12] có thể biểu diễn được dưới dạng (p−1)X2+pY2. Với n=0 thì hiển nhiên. Gỉa sử :
Do đó [(p−1)x12+py12][(p−1)x22+py22]...[(p−1)x2n2+py2n2] hoàn toàn có thể biểu diễn được dưới dạng p(p−1)m2+n2. Như vậy A=[p(p−1)m2+n2][(p−1)x2n+12+py2n+12].
Ta có p(p−1)m2+n2≡n2(modp),(p−1)x2n+12+py2n+12≡−x2n+12(modp). Do đó A≡−(nx2n+1)2(modp) hay p∣A+(nx2n+1)2. Vì A là số chính phương và p≡3(mod4) nên ta suy ra p2∣A,p∣nx2n+1. Ta sẽ xét ba trường hợp sau:
TH1. Nếu p∣n,p∤x2n+1. Dễ thấy rằng p∤(p−1)x2n+12+py2n+12. Vì A chính phương nên 2∣vp(p(p−1)m2+n2). Ta có p∣p(p−1)m2+n2 nên p2∣p(p−1)m2+n2. Điều này đồng nghĩa với p∣m vì p∣n.
Đặt vp(m)=b1,vp(n)=b2 thì m=pb1m1,n=pb2n1(p∤n1,p∤m1). Ta có p(p−1)m2+n2=p2b1+1(p−1)m12+p2b2n12
Dễ thấy rằng nếu 2b1+1<2b2 thì 2∤vp(p(p−1)m2+n2). Do đó 2b1+1>2b2. Khi đó p(p−1)m2+n2=22b2[p2(b1−b2)+1(p−1)m12+n12].
Như vậy A là số chính phương khi và chỉ khi B=[p2(b1−b2)+1(p−1)m12+n12][(p−1)x2n+12+py2n+12] là số chính phương. Lập luận tương tự, ta thu được p∣B+(n1x2n+1)2 và suy ra p∣B, mâu thuẫn.
TH2. Nếu p∤n,p∣x2n+1, lập luận tương tự trường hợp 1, ta suy ra mâu thuẫn.
TH3. Nếu p∣n,p∣x2n+1. Đặt n=pn1,x2n+1=pc1. Khi đó A=p2[(p−1)m2+pn12][p(p−1)c12+y2n+12] là số chính phương khi và chỉ khi [(p−1)m2+pn12][p(p−1)c12+y2n+12] chính phương. Ta quay lại với ý tưởng ban đầu và dẫn đến p∣y2n+1,p∣m. Quá trính cứ tiếp tục tiếp diễn, ta suy ra pk∣x2n+1,pl∣y2n+1 với mọi k,l∈N∗. Do đó x2n+1=y2n+1=0, mâu thuẫn vì hai số này nguyên dương.
Bài toán: Chứng minh rằng phương trình sau có vô số nghiệm nguyên dương :yx+1+xy+3=6Lời giải :
Biến đổi phương trình về dạng bậc hai ẩn x và tham số y :
x2+x(1−6y)+y2+3y=0
Phương trình này có Δ=(1−6y)2−4(y2+3y)=32y2−24+1.
Ta chỉ cần chứng tỏ rằng tồn tại vô hạn các số nguyên dương y sao cho biểu thức Δ là số chính phương.Hay chứng minh phương trình sau có vô hạn nghiệm nguyên dương :
32y2−24y+1=k2⇔(8y−3)2−2k2=7
Ta xây dựng hai dãy số (xn),(yn) như sau :
⎩⎨⎧x0=3,y0=1xn+1=3xn+4ynyn+1=2xn+3yn
Khi ấy ta có :
xn+12−2yn+12=(3xn+4yn)2−2(2xn+3yn)2=xn2−2yn2=...=x02−2y02=7
Điều này chứng tỏ phương trình dạng :
X2−2Y2=7
có vô hạn nghiệm nguyên dương.
Tiếp theo ta chỉ cần chứng tỏ có vô số số hạng của dãy (xn) có dạng 8t−3 thì bài toán được giải quyết trọn vẹn.
Ta chứng minh dãy (x2k) chứa toàn những số hạng có dạng 8t−3. Thật vậy, ta có :
xn+1=3xn+4yn=9xn−1+12yn−1+4yn=9xn−1+8yn−1+4(yn+yn−1)≡xn−1(mod8)
Suy ra :
x2k≡x2=13≡−3(mod8)
với mọi số nguyên dương k. Ta có điều phải chứng minh.
Nhận xét :Ta có phương pháp để chọn ra các dãy (xn),(yn) như sau :Phương trình nghiệm nguyên có dạng :X2−kY2=m(1)với m là số nguyên , k là số nguyên dương không chính phương.Nếu (1) có nghiệm nguyên dương là (A,B). Và nếu phương trình Pell dạng X2−kY2=1 có nghiệm nguyên dương là (C,D).Ta chứng minh được phương trình (1) có vô số nghiệm nguyên dương bằng cách xét các dãy :
⎩⎨⎧x0=A,y0=Bxn+1=Cxn+kDynyn+1=Dxn+CynVì khi ấy :xn+12−kyn+12=xn2−kyn2=...=x02−ky02=m